Hò Huế
Cập nhật, ngày30/07/2010 09:43

Vị thế địa văn hóa, địa chính trị của xứ Huế khiến con người sinh sống bằng rất nhiều nghề khác nhau. Ngọn nguồn lao động ấy đưa người Huế tới chỗ sáng tạo được những làn điệu dân ca phong phú, đáng kể cả về nội dung và nghệ thuật.

Là loại hình nghệ thuật ca hát dân gian được mọi người ưa chuộng, hò Huế với bản sắc riêng có nhiều loại, phân biệt bằng đoạn đầu, đoạn cuối ngân hơi qua những tiếng đệm, lót miệng và tốc độ, tiết tấu khác nhau.

a) Hò mái nhì:

Đây là điệu hò sông nước chứa đựng nhiều tính dân tộc, mang phong cách rất Huế. Nó có thể dùng hòa đơn lẻ (một người), lại có thể dùng trong hò cuộc (hò đối đáp), có chức năng phụ lực cho hoạt động của con người, lại có đủ điều kiện cho nhân vật trữ tình, người hò gởi gắm tâm trạng của mình. Môi trường diễn xướng chủ yếu là dòng sông Hương trong xanh lặng lờ trôi qua thành phố Huế trầm ngâm trước thế sự đổi đời. Hò mái nhì có một mãnh lực riêng. Nhất là khi chỉ có một người hò (chỉ có cái xướng, chỉ có con xô). Trên mặt sông như nước hồ mùa thu của dòng Hương, điệu hò kéo dài gần như bất tận, lửng lơ trong thinh không, một phần như chùng chình, giăng díu trên mặt nước, một phần loang trong lòng gió, đập vào vách núi chạy lan dài trong rừng thông, để rồi dội vang lại, lưu luyến, nỉ non, nghe xốn xang lòng người. Ai đã từng qua Huế, đã từng đi trên dòng Hương mà không xao xuyến bồi hồi, khi từ trời nước mênh mang, vọng lại câu hò:

Đò từ Đông Ba, đò qua đập Đá, đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ, bóng ngả, trăng chênh, giọng hò xa vọng nhắn tình nước non.
Mà không nao lòng trước một lời than:
Thuyền ai trôi trước
Cho tôi lướt đến cùng
Chiều đã về trời đất mông lung
Có phải duyên thì xích lại đỡ não nùng tiếng sương.


Hò mái nhì thường bắt đầu bằng lời ướm hỏi của một người (hò gần). Nếu có người hưởng ứng cuộc hò kéo dài theo độ dài con sông, tùy theo tình cảm của người trong cuộc. Cuộc hò có ba chạng: lời chào hỏi, lời trao đổi tâm tình và những câu hò hẹn. Giai điệu trầm bổng, ý tứ tinh vi.

Có người truy tìm nguồn gốc của nó ở hệ thống âm giai Âấn Độ, mẹ đẻ của âm nhạc Chàm. Tuy nhiên, sự tiếp thu vốn văn hóa Chăm pa được thể hiện trên giai điệu lơ lớ (hơi nam, giọng ai) nhưng lại là sáng tạo độc đáo của người dân xứ Huế. Lời bài hò dài ngắn phụ thuộc vào người diễn xuất (người xướng) theo nhịp hai, khuôn thơ là một kiểu cấu trúc có biến hóa.
Hò mái đẩy có nhịp điệu mạnh hơn, thường được hò trên những con thuyền mà người ta chèo nhanh tay, chủ yếu đẩy nước cho mạnh, không cần có nhịp.

b) Hò bài chòi (còn gọi là rao bài chòi hay hô bài chòi)

Đây là một hình thức vui chơi lâu đời mang tính văn nghệ độc đáo không thể thiếu được của nhân dân Thừa Thiên - Huế (và cả Quảng Trị) trong ba ngày Tết Nguyên Đán. Ơở phiên chợ Tết Gia Lạc (ngoại ô Huế) mở đúng vào ngày mồng một Tết, bà con từ Huế đi chơi xuân bước đến bền đò Gia Lạc đã nghe âm vang náo nức của tiếng hò bài chòi.

11 cái chòi theo hình chữ U được dựng lên, những người chơi bài chòi ngồi ngất ngưỡng trên 11 cái chòi cao, trước mặt mỗi chòi có treo một tấm mành tre để người chơi bài được kín đáo, vừa theo dõi ván bài, vừa nếm mứt gừng, ăn mè xửng hoặc nhấm nháp rượu với nem chua, vừa nghe đàn, sáo phụ họa theo tiếng rao bài.

Mỗi lần có người tới (tứ là ù) thì dàn nhạc (đàn, sáo, trống, kèn) nổi lên cùng với tràỏng pháo nổ rang chào mừng người thắng cuộc, trong khi người rao chòi trịnh trọng đưa phần thưởng đặt trên chiếc khay nạm khảm xà cừ để đến tận chòi người ù, và cắm lên đó một lá cờ đuôi nheo bằng giấy hồng. Một lần nữa, tiếng pháo lại nổ ran trước chòi do người thắng cuộc tự đốt giấy lên để báo cho các chòi bạn và người xem sự vui mừng của mình. Vào lúc này, giữa làn khói tỏa, giăng díu nắng xuân đội múa lân cùng với ông địa (người mang mặt nạ thổ địa) tiến ra giữa khu chòi nhảy múa rộn ràng để chúc mừng người thắng cuộc trong tiếng trống liên hồi giục giã.

Cuộc vui hò bài chòi đó kéo dài suốt mấy ngày đêm Tết người chơi cũng như người hò cứ luân phiên nhau.

c) Hò giã gạo:

Nếu nói rằng hò là nhịp cầu giao cảm tâm hồn những con người đồng điệu thì hò giã gạo là thể loại tiêu biểu. Hò giã gạo hợp với sinh hoạt tập thể, lôi cuốn không chỉ người đang giã gạo mà cả người ngoài cối giã.

Những cuộc hò như thế, thường được tổ chức vào đêm trăng thanh, gió mát, lúc việc nhà, việc đồng và việc làng đã rảnh rỗi.

Cuộc hò giả gạo hồn nhiên hay có tổ chức (có treo giả thưởng) thường diễn ra theo trình tự gồm ba giai đoạn: Hò mời, hò chào, hò vào cuộc, và hò xa cách (còn gọi là vào hò, giữa hò và hết hò). Hò mời là lời xướng đầu tiên có tính chất thúc giục, kêu gọi các nhóm hò cùng tham gia. Hò chào để làm quen và dẫn đến phần chính của cuộc hò, tứ là hò vào cuộc, gồm có hò gần (hò hỏi), hò đám bắt, hò đổ và hò ân linh. Phần diễn xướng chủ yếu của cuộc hò giã gạo là hò đám bắt và hoàn linh. Cho nên, bao giờ phần này cũng sống đọng, hào hứng, luôn dấy lên trong đám đông người nghe những đợt sóng nói cười hể hả, bình phẩm râm ran, và càng về khuya càng sôi nổi thêm lên, cuốn hút người hò lẫn người nghe say sưa, mải mê trong cuộc, mặc cho tiếng gà gáy sang canh mỗi lúc giục giã, thúc dồn.

d) Hò đưa linh: là một điệu hò nghi lễ gắn với vòng đời người, có nơi gọi là hò bả trạo, hò chèo cạn đưa linh hay hò đưa linh tập chèo.

Vòng đời người trong cuộc hành trình âm nhạc đã mở ra bằng tiếng hò ru con thì có lúc sẽ khép lại bằng điệu hò đưa linh. Nó kết hợp với tiếng kèn, trống và điệu múa để xoa dịu nỗi đau thương của cảnh sinh ly tử biệt bằng những lời tâm sự sau chót mang tính chất nghệ thuật của người sống tiễn đưa người đã khuất đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Dàn nhạc phường hò đưa linh gồm: 1 trống, 2 kèn, 1 quyển (hay sáo), 1 mỏ, 1 sanh (có thể thêm 2 nhị, 1 bầu và sanh tiền). Về trình tự, hò đưa linh gồm ba giai đoạn: hò trong nhà buổi tối trước ngày đưa tang, hò trong lúc đám tang đi trên đường và lúc dừng lại để tế tại một ngã ba đường (tế đạo trung) và hò lúc hạ huyệt.

Hò đưa linh gồm nhiều điệu, nhiều khúc thức mang tính chất kể lể lâm ly, ai oán. Trong lúc hò có múa. Một nhóm múa gồm từ 4 đến 8 người cầm bơi chèo dưới sự chỉ huy của một người cầm đầu gọi là ông cai giang, vừa hò vừa múa với những động tác nhịp nhàng mô phỏng theo động tác chèo thuyền chung quanh chiếc quan tài được hình dung như đang đặt trên một con thuyền có 4 hoặc 8 người chèo, và đám bạn chèo là người cầm lái.

Như vậy, hò đưa linh xuất phát từ những điệu múa chèo thuyền cổ xưa được nghi lễ hóa, đã trở thành một hình thức diễn xướng mang tính kịch.

 
(binhthuan.gov)
Cồng chiêng Bh'noong
“Lật ngửa cồng ra / Đổ cho đầy rượu / Lật ngửa chiêng ra / Sắp thịt cho ...
 
Nón Quai Thao
Nón quai thao không chỉ gắn với những chiếc áo mớ ba, mớ bảy làm nên dáng đẹp ...