Kỳ I: Mua bán sai pháp luật nhưng vẫn có GCNQSDĐ

Trên Báo Thanh tra số 62 ra ngày 2/8/2016 có bài:

Quận 7 (TP Hồ Chí Minh): Giải quyết không đúng pháp luật, công dân tiếp khiếu vượt cấp.

Kỳ I: Mua bán sai pháp luật nhưng vẫn có GCNQSDĐ

Gần 9 năm qua, dù công dân khiếu nại (KN) có cơ sở nhưng lãnh đạo UBND quận 7 không tuân thủ đúng quy định pháp luật về tiếp công dân, ban hành quyết định giải quyết đúng thẩm quyền dẫn đến việc công dân tiếp khiếu vượt cấp.

Gần 9 năm qua, ông Huỳnh Văn Cò (sinh năm 1951, ngụ tại nhà số 231A/8 đường Dương Bá Trạc, phường 1, quận 8) liên tục có đơn KN mong muốn được Chủ tịch UBND quận 7 xem xét, làm rõ vì sao phần đất gia tộc của mình lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho người khác.

Đất gia tộc, sử dụng liên tục

Gặp chúng tôi, ông Cò thở dài: “Gần 9 năm qua, tôi đã đi KN từ khi tóc còn đen đến khi bạc đầu mà vẫn chưa tìm được công lý. Phần đất này do cha ruột tôi khai phá từ những năm 1960, trên đất vẫn còn mồ mả người thân. Cha ruột tôi, chị em tôi đã sử dụng đất liên tục, thực hiện nghĩa vụ thuế nông nghiệp với Nhà nước, không hiểu vì sao người khác có GCNQSDĐ”.

Đối chiếu với đơn KN và hồ sơ xác minh của một số cơ quan chức năng thuộc UBND quận 7, cho thấy: Năm 1960, cha ruột ông Cò là ông Huỳnh Văn Tám đã khai hoang 18.000m2 đất ven sông ông Lớn, nay thuộc địa bàn phường Tân Hưng, quận 7, để trồng lúa một vụ. Sau năm 1975, ông giao lại cho 2 người con là ông Huỳnh Văn Cò, bà Huỳnh Thị Chim khoảng gần 13.000m2 đất để trồng lúa và thực hiện nghĩa vụ thuế nông nghiệp đối với diện tích đất đã kê khai, với chính quyền cách mạng xã Tân Quy Tây, huyện Nhà Bè.

Gia đình ông Cò canh tác nông nghiệp trên 2 thửa đất 477, 478 và chăm sóc mồ mả gia tộc. Ảnh: Ngọc Giang

Hưởng ứng chủ trương hợp tác hóa, tháng 5/1979, hai chị em ông Cò đã đưa đất vào Tập đoàn 9, Hợp tác xã Tân Quy I, nhưng vẫn tiếp tục trồng lúa trên phần đất này với tư cách xã viên hợp tác xã.

Đến năm 1985, Hợp tác xã Tân Quy I có chủ trương lấy một phần đất mà hai chị em ông Cò đang trồng lúa để đào ao nuôi cá, đổi lại ông Cò được nhận 5.000m2đất lúa ở khu vực khác.

Riêng bà Chim tiếp tục sử dụng diện tích đất còn lại, trồng lúa và trồng dừa nước tại phần đất sát bờ sông, cũng như chăm sóc phần mồ mả trên đất. Sau khi nhận đất từ các hộ dân có đất nông nghiệp ven sông ông Lớn, thực hiện chủ trương chung, Tập đoàn 9 đã kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg. Khi đó, phần đất của hai chị em ông Cò được đánh số thành thửa đất 477 (có diện tích 3.295m2), thửa đất 478 (có diện tích 9.720m2), theo sổ mục kê ruộng đất được UBND huyện Nhà Bè phê duyệt ngày 14/12/1984.

Vì mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung không phù hợp nên năm 1993, Tập đoàn 9 tiến hành trả lại người dân các phần đất trước đây đã đưa vào hợp tác xã. Khi đó, chủ cũ đã yêu cầu ông Cò giao lại 5.000m2 đất nên ông Cò quay lại phần đất mà hợp tác xã đã cải tạo thành ao nuôi cá để tiếp tục cùng chị ruột trồng lúa, khai thác dừa nước để sinh sống, chăm sóc, bảo vệ mồ mả. Khi sử dụng phần đất này, hai chị em ông Cò đã đóng thuế đất nông nghiệp đến năm 2001. Tại khu vực này, từ năm 1994 – 2008, UBND TP Hồ Chí Minh đã có thông báo quy hoạch Dự án cảng sông ông Lớn do Cục Đường sông thuộc Bộ Giao thông Vận tải làm chủ đầu tư.

Mua bán đất trái luật

Theo quy định, đất nông nghiệp thuộc diện quy hoạch không được chuyển đổi, công nhận quyền sử dụng nên thời gian 2001 – 2008, hai chị em ông Cò tiếp tục canh tác nông nghiệp trên hai thửa 477, 478. Đến giữa năm 2008, ông Cò thuê người đo vẽ để làm thủ tục công nhận QSDĐ cho hai chị em thì mới biết phần đất này đã có GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyễn Đức Thống từ cuối năm 1995.

Khi ông Cò KN, tại các buổi hòa giải do Phó Chủ tịch UBND phường Tân Hưng Đào Gia Vượng chủ trì, ông Thống đã cung cấp bản sao giấy tờ mua bán đất nông nghiệp, GCNQSDĐ số 378/QSDĐ/78 ngày 31/12/1995 của UBND huyện Nhà Bè.

Qua đối chiếu quy định pháp luật cho thấy, giấy tờ mua bán đất ngày 22/4/1992, giữa ông Hồ Văn Hải, cán bộ Hợp tác xã Tân Quy I và ông Thống, dù được UBND xã Tân Quy Tây xác nhận, đã sai với quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1987, sai với Chỉ thị số 77/CT ngày 9/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về nghiêm cấm mua bán đất đai dưới mọi hình thức.

Ngoài ra, theo quy định về giao, cấp đất nông nghiệp thời điểm mua bán thì ông Thống không phải là đối tượng được cơ quan chức năng giao đất, cấp nông nghiệp.

Điều đáng lưu ý, đến năm 1993, phần đất mà ông Thống mua lại của ông Hải vẫn là đất nông nghiệp do Tập đoàn 9 đăng ký, sử dụng, có nguồn gốc là đất trồng lúa của chị em ông Cò, thì việc mua bán ngày 22/4/1992 là vô hiệu. Hành vi mua bán này theo quy định tại Điều 53, 54 của Luật Đất đai 1987 thì phải xử lý nghiêm về hành chính và hình sự cả người bán là ông Hải, người mua là ông Thống, cán bộ xã Tân Quy Tây vì đã xác nhận cho hành vi sai pháp luật.

Không hiểu vì lý do gì, ông Thống đã có trong tay GCNQSDĐ số 378/QSDĐ/78, để tiếp tục dựng hàng rào toàn bộ phần đất của hai chị em ông Cò.

Mọi đơn từ KN của ông Cò đều chỉ được UBND quận 7 giao cho các chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thụ lý để rồi tất cả đều chỉ là công văn chuyển đơn lòng vòng, thông báo đề nghị hai bên ra tòa.

Ngược lại, ông Thống tự ý bơm cát lên phần đất nông nghiệp, che lấp nhiều ngôi mộ của gia tộc ông Cò, sử dụng đất sai mục đích khi cho Cty TNHH TM Him Lam thuê làm bến bãi tập kết cát sỏi, nhiều lần cho người ngăn cản không cho chị em ông Cò chăm sóc mồ mả người thân với lý do đây là… mộ hoang.

Kỳ II: Giấy chứng nhận có dấu hiệu giả mạo

Bình luận